Theo Quyết định số 2139/QĐ-BVHTTDL, ngày 06 tháng 6 năm 2012 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
I. TÊN GỌI
Theo truyền thuyết địa phương: ông Phạm Văn An là người đầu tiên khai hoang lập ấp và an cư lập nghiệp cho những cư dân ở vùng này. Để ghi nhớ công ơn người đi trước, người dân nơi đây ghép tên của ông với chữ Định để đặt tên cho làng (vì kiêng cử gọi đúng tên An nên đổi là Yên) do đó làng có tên là Định Yên.
Năm 1909 nhân dân làng Định Yên dựng lên ngôi đình để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần tín ngưỡng và ngôi đình có tên gọi là Đình Định Yên.
Di tích Đình Định Yên thuộc tổ 11, ấp An Khương, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
II. SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Đình Thần xã Định Yên trước kia xây dựng rất đơn sơ, bằng tre lá vào năm nào thì không ai nhớ rõ, chỉ biết là địa điểm đầu tiên ở rạch Bàu Bùn, kế đến dời về rạch Ba Trôm. Địa điểm hiện nay nằm đầu vàm rạch Ngã Bát.
Năm Canh Tuất 1909 đình được khởi công xây dựng bằng vật liệu kiên cố trên nền đình cũ, đến năm Quí Sửu 1912 hoàn thành.
Nhân dân trong xã bầu lên 04 vị có góp công, góp của chỉ huy trông coi xây dựng đình thần.
1/ Ông: Nguyễn Văn Bàu (Hương cả)
2/ Ông: Nguyễn Ngọc Thoại (Hương chủ)
3/ Ông: Đoàn Văn Trạch ( Phó cai tổng)
4/ Ông: Lê Cập Đệ ( Hương giáo sau lên hương cả)
Trước khi nhận trọng trách xây cất đình thần, làng giao phó 04 vị nầy lập bàn thề nguyện trước hoàng thiên hậu thổ với linh thần không gian lận của nhân dân trong việc xây cất đình “Nếu ai vi phạm sẽ bị trời đất và thần thánh quở phạt”.
Ông Hương cả Nguyễn Văn Bàu trông coi tổng quát trong thời gian xây cất đình. Bốn vị nầy luân phiên trực hàng ngày trông coi công thợ cất đình.
Nền đình được lót bằng đá miểng ở núi sập, kiến trúc gỗ, mái lợp ngói âm dương, gỗ sút mua từ Châu Đốc bè về bằng đường sông để làm cột, kèo, đòn tay, xuyên, trích…
Nhân dân trong làng đóng góp tiền để xây dựng đình tùy theo kinh tế của mỗi nhà được chia ra 13 hạng.
- Hạng 1: 1.500đ
- Hạng 13: 5đ
Đất xây dựng đình do 3 ông Nguyễn Văn Bàu, Nguyễn Văn Thoại, Đoàn Văn Trạch mua đất hiến.
Tổng số người đóng góp tiền để xây dựng đình là 298 người dân trong làng (có người minh hương sinh trưởng trong làng và một số người ở làng khác cúng) với tổng số tiền là 17.895đ.(mười bảy ngàn tám trăm chín mươi lăm đồng)
Ngày rằm tháng 4 năm Quí Sửu 1912 là lễ cúng Kỳ Yên và cũng là lễ khánh thành đình. Chùa An Phước có đem đại hồng chung vào đình để vọng u minh, có hòa thượng và các tăng ni chung niệm hương trong buổi lễ cầu an cho dân làng.
Cũng như nhiều đình khác ở Nam Bộ, đình Định Yên thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh. Sắc thần được Vua Tự Đức phong cấp vào ngày 29/11/1852 (AL), Sắc Thần được viết bằng chữ Hán trên giấy bản loại tốt màu vàng nhạt, có in hoa văn bông cúc dây và hình rồng ẩn hiện, Sắc được cất trong một cái ống đặt trong một cái khay sơn son tiếp vàng giao cho một vị kỳ lão giữ gìn cẩn thận.
Nguyên Văn Chữ Hán:
“Sắc bổn cảnh thành hoàn chi thần
Nguyên tặng Quảng hậu chánh trực, hựu (hộ) thiện chi thần
Hộ quốc trung dân
Nẫm (lẫm) trứ linh ứng
Tứ kim (kiên) phi ứng cảnh (kiểu) mệnh (mạng miễn niệm)
Thần hựu khả gia tặng
Quảng hậu (hộ) chánh trực hậu (hộ) thiện đôn ngưng chi thần.
Nhưng chuẩn Đông xuyên huyện Định Yên thôn y cựu. Phụng sự thần kỳ hương (tương) hữu bảo ngã lê dân khâm tai
Ẩn sắc mạng chi bảo. Tự Đức ngũ niên thập nhứt ngoạt nhị thấp cửu nhật”
Dịch: Sắc thần hoàng bổn cảnh, vốn được tặng là thần quãng hậu chánh trực hựu (hộ) thiện, giúp nước cứu dân từng nhiều lần hiển hiện linh ứng. Ta nay vâng mệnh sáng của trời, nghĩ tới đức tốt của thôn thần, tặng thêm là quãng hậu chánh trực hựu thiện đôn ngưng vấn chứng cho thần, Định Yên huyện Đông Xuyên thờ phụng như cũ, thần thì giúp đỡ bảo vệ dân đen của ta.
Tự Đức năm thứ năm ngày 29/11/1852
Đình Định Yên thờ thần thành hoàng bổn cảnh nên thuộc loại kiến trúc nghệ thuật tín ngưỡng dạng đình.
III. KHẢO TẢ DI TÍCH:
Đình được xây dựng theo kiểu kiến trúc nội công, ngoại quốc. Kiến trúc gỗ, lợp ngói âm dương, các vì kèo đầu có chạm đầu rồng, lân khóe, cá hóa long, xung quanh có tường xây bằng gạch.
Các câu liễn đối, hoàng phi, bao lam được cẩn ốc xà cừ. chạm khắc mai, lan, cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, sen lẫn hình bông sen, có nhiều bức được sơn son tiếp vàng, các bức tranh sơn thủy, bích họa bên trong và bên ngoài vách đình có đường nét sắc sảo với nội dung ca ngợi đất nước con người văn võ đức tài.
Trước đây đình có các hạng mục như cổng võ ca, bái đình, chánh điện, nhà khách, nhà túc.
Năm 1984 võ ca bị dở để lấy gỗ cất trường học tại địa phương, hiện nay còn lại bái đình, chánh điện, nhà khách và nhà túc.
IV. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG DI TÍCH:
Các nghi lễ cúng tại đình thần Định Yên được tổ chức vào các ngày âm lịch trong năm gồm có các lễ như sau:
1. Tết Nguyên Đán 30/12; 1/1; 2/1
2. Lễ khai sơn ( trảm mộc) 3/1
3. Lễ thượng ngươn 15/1
4. Lễ hạ điền 15-16-17/4
5. Lê đoan ngọ 5/5
6. Lễ trung ngươn 15/7
7. Lễ hạ ngươn 15/10
8. Lễ thượng điền 15-16/11
Trong đó có 02 lễ cúng quan trọng và đông người đến dự nhất là lễ cúng hạ điền và thượng điền. Lễ hạ điền số khách đến dự khoảng 10.000 người, thượng điền khoảng 5.000 người.
Lễ hạ điền diễn ra vào ngày 15-16-17/4 âm lịch hàng năm. Đây là lễ cúng lớn nhất trong năm, mang ý nghĩa là lệ xuống giống, ra đồng, khai trương việc cày cấy trong năm. Lễ cúng Kỳ Yên (cầu an) thường ghép vào lệ cúng hạ điền, lệ nầy 3 năm một lần với mục đích là cầu “phong điều vũ thuận, người yên vật thịnh, tống ôn tống gió”.
Lễ thượng điền diễn ra vào ngày 15-16/11 âm lịch hàng năm, lễ được tổ chức ít qui mô so với lệ cúng cầu an. Cũng như lễ hạ điền, lệ cúng thượng điền mang tính chất tín ngưỡng nông nghiệp có ý nghĩa mùa màng đã kết thúc, tạ ơn thần nông, trời đất,… đã mưa thuận gió hòa, tạo điều kiện cho mùa màng tươi tốt.
Trình tự của một lễ cúng hạ điền và thượng điền thường diễn ra các lễ như sau:
- Lễ thỉnh sắc: Do đặc điểm lịch sử của đình làng Nam Bộ nên sắc thần trở thành báu vật thiêng liêng của làng, được giữ gìn rất cẩn trọng, thường không bảo quản tại đình mà được cất giữ tại nhà một hương chức trong làng là ông Nguyễn Công Ích, Trưởng Ban tế tự đình, cách đình 600m. Nên đến lễ cúng tế có nghi thức thỉnh sắc rất trọng thể, trang nghiêm với nghi trượng của quan đại thần (lính hầu, trống, cờ, lọng, lỗ bộ) và long đình, khi có trống lịnh, hương chức và dân làng phải tập hợp đi rước sắc. Tại nhà ông Nguyễn Công Ích phải tế một tuần hương ba tuần rượu, đọc một bài văn tế 9 hoặc bài khấn sắc được rước đặt trên long đình có đội phu kiệu khiêng với sự hộ tống đoàn hương chức và dân làng đi rước sắc đưa về an vị tại đình.
- Lễ thỉnh sanh: Chiều ngày đầu tiên, hương chức nhóm họ đông đủ chuẩn bị lễ túc yết và nghi thức đầu tiên là lễ thỉnh sanh. Ban tế tự tề tựu tại chánh điện cùng học trò lễ và ban nhạc: một con heo sống đặt ngay trên ghế ngựa trước bàn Hội đồng ngoại.
- Lễ túc yết: Mang ý nghĩa là túc trực để chờ ra mắt (yết kiến) nghinh tiến khấn lễ tiến hành tuần tự theo lời xướng của học trò lễ.
- Lễ đoàn cả: Là lễ chánh tế linh thần, được cử hành vào 3 giờ sáng ngày 16 âm lịch giữa đêm vào lúc âm dương giao hòa, mang ý nghĩa mọi điều tốt lành sẽ được sinh sôi nảy nở. Lễ mang ý nghĩa là tất cả mọi người tụ họp lại để tạ ơn thần. Nghi thức lễ này tiến hành như lễ túc yết.
- Lễ hồi sắc: Nghi thức lễ hồi sắc cũng giống như lễ thỉnh sắc với một tuần hương, ba tuần rượu, một tuần trà, đọc bài văn tế gọi là làng “văn tống”. Lễ tổ chức vào lúc 14 giờ.
Trong các lễ cúng hạ điền và thượng điền hàng năm, Ban tổ chức đều có mướn gánh hát đến diễn các tuồng tích cũ như: Lưu Kim Đính, Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, San Hậu…tại sân đình trước nền võ ca cũ.
V. GIÁ TRỊ KHOA HỌC LỊCH SỦ - VĂN HÓA- NGHỆ THUẬT:
Đình Định Yên ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần tín ngưỡng của một cộng đồng dân cư nằm bên bờ sông Hậu sau thời kỳ khai hoang. Thiết chế đình làng và lễ hội cúng đình mang đậm truyền thống uống nước nhớ nguồn, yêu mến quê hương, tổ quốc, nhớ ơn tiền nhân dày công khai hoang mở nước, tri ân anh hùng liệt sĩ đã xã thân bảo vệ quê cha đất tổ, xóm làng, của dân tộc Việt Nam, đình làng là biểu hiện của văn hóa Việt Nam.
Đình Định Yên có giá trị kiến trúc nghệ thuật gỗ rất đặc sắc, nó còn giữ được nguyên trạng của thành tựu kiến trúc của người thợ Việt đầu thế kỷ XX.
Các bức trạm trổ, đầu rồng đuôi cá, các bao lam, thành vọng đã tạo nên vẽ đẹp độc đáo của ngôi đình cùng với các án thờ, tủ cẩn xà cừ xưa đã tạo nét uy nghi tôn kính cho ngôi đình, thu hút du khách gần xa đến tham quan và chiêm bái.
VI.TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN DI TÍCH
Từ khi xây dựng vào năm 1912 đến nay, Đình Định vẵn ở nguyên vị trí cũ. Các hạn mục chính của đình cũng còn nguyên trạng (trừ vỏ ca bị dở năm 1984) cột kèo, kết cấu chịu lực, mái ngói, nóc của đình có tu sửa nhưng vẫn giữ được kiểu dáng ban đầu.
Hiện nay đình có một Ban tế tự chịu trách nhiệm quản lý, trùng tu, tổ chức, các lễ hội cúng đình hàng năm. Ban tế tự cũng cử một bộ phận trông nom quét dọn và cúng kiến hàng ngày.
VII. CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO QUẢN DI TÍCH
Dưới thời phong kiến, đình Định Yên đã được vua ban sắc phong thần và cho phép dân làng thờ tự lâu dài. Hệ thống sắc phong và qui định chặt chẽ của lệ làng chính là cơ sở cho việc giữ gìn, bảo vệ di tích của những năm trước giải phóng (1975).
Đình đã được đăng ký vào sổ kiểm kê di tích từ năm 1992 của Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp. Nhận thấy ý nghĩa về mặt lịch sử văn hóa nghệ thuật của tỉnh. Bảo tàng Đồng Tháp tiến hành lập hồ sơ di tích đề nghị UBND tỉnh ra quyết định công nhận Di tích Lịch Sử Văn Hóa cấp Tỉnh cho Đình Định Yên. Sau đó Bảo tàng tình Đồng Tháp tiếp tục đề nghị và được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ký Quyết định số 2139/QĐ-BVHTTDL, ngày 06/6/2012, Đình Định Yên được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.
Từ khi Đình Định Yên được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, nhân dân địa phương rất vui mừng, mỗi lần lễ hội kỳ yên, người dân trong và ngoài xã đến tham dự rất đông, cầu cho mưa thuận gió hòa, Quốc thới dân an, người dân sống trong hòa bình, hạnh phúc, đây chính là nét văn hóa độc đáo của đình làng Nam bộ được lưu giữ đến ngày hôm nay.